2020: Năm thiên tai dị thường

Việt Nam trải qua một năm thiên tai khốc liệt, dị thường nhất trong hai thập niên với bão dồn dập, đỉnh lũ lịch sử liên tiếp thiết lập, hạn mặn nghiêm trọng chưa từng có, sạt lở quy mô lớn khiến 132 người cнếт và mất tích.
14 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động liên tục trên Biển Đông – nhiều hơn trung bình các năm 20%, ảnh hưởng chủ yếu đến miền Trung.

Sau đợt hạn háห kéo dài, đầu tháng 10, các tỉnh từ Thanh Hóa đến Quảng Ngãi đón những trận mưa to (50-100 mm) liên tục trong 24 tiếng do chịu ảnh hưởng của đợt không khí lạnh – khởi đầu một chuỗi thiên tai dồn dập.

 

14 cơn bão hoạt động trên biển Đông trong năm 2020.

Trong 20 ngày, bốn cơn bão Linfa, Nangka, Saudel, Molave và một áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam. Hiện tượng dị thường này lặp lại sau 37 năm.

Trong đó, Molave với thời gian lưu bão kéo dài 6 tiếng và có cường độ mạnh nhất trong 20 năm – tương đương Xangsane năm 2006 và mạnh hơn Damrey năm 2017. Cơn bão này đổ bộ vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định nhưng phạm vi ảnh hưởng lan rộng cả miền Trung, Tây Nguyên.

Theo GS.TSKH Nguyễn Ân Niên (nguyên viện trưởng viện Khoa học Thủy lợi miền Nam), số lượng bão năm nay không quá nhiều so với trung bình các năm nhưng cái đặc Ъ¡ệт nằm ở cường độ, nhiều đợt là “siêu bão” (sức gió 167-183 km/h). May mắn là khi tiến gần đất liền, bão suy yếu hoặc thành áp thấp nhiệt đới.

Bão dồn dập, mưa lớn triền miên khiến nhiều vùng ở Trung Bộ ngập sâu. Chỉ trong 20 ngày đầu tháng 10, tổng lượng mưa các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi là 1.000-2.000 mm, có nơi 2.000-3.000 mm, cao hơn 3-5 lần so với trung bình nhiều năm cùng thời kỳ.

Tại Hà Tĩnh, mưa lũ đã đạt nhiều kỷ lục. Riêng tháng 10, lượng mưa cao nhất trong 60 năm qua với 2.370 mm. Chỉ trong một ngày, lượng mưa được ghi nhận cao nhất là 872 mm – hơn trung bình một năm của tỉnh Ninh Thuận (700-800 mm). Lần đầu tiên trong 40 năm, Hà Tĩnh phải lên phương áห phá tràn hồ Kẻ Gỗ để đảm bảo an toàn công trình, khi mực nước ở cao trình 33,8 m – vượt so với ngưỡng an toàn 32,5 m.

Ngày 12/10 và 19/10, ngập lụt xảy ra trên d¡ệห rộng khiến hơn 317.000 hộ dân với hơn 1,2 triệu người từ Nghệ An đến Quảng Nam bị ảnh hưởng; nhiều nơi ngập sâu, kéo dài tới 15 ngày. Trong đó, Quảng Bình là địa phương bị nặng nhất.

Bản đồ vùng ngập ở miền Trung hồi tháng 10.

Mưa lớn trên d¡ệห rộng cũng gây các đợt lũ trên 16 tuyến sông, nhiều mốc kỷ lục bị thay thế.

Tại các sông Hiếu (Quảng Trị), Bồ (Thừa Thiên Huế), Kiến Giang (Quảng Bình)… đỉnh lũ ở mức 5 m đến 7,4 m – vượt 0,11-0,97 m so với đỉnh lũ lịch sử được thiết lập 20-40 năm trước. Mức độ được người dân địa phương mô tả là “chưa từng chứng kiến lũ có sức tàn phá đến vậy”.

Mưa bão kỷ lục và kéo dài liên tục đã khiến đất đá “ngậm no nước”, bục bở, gây ra sạt lở, lũ quét.

Hơn 120 trận lũ, lũ quét, sạt lở đất đã xảy ra năm qua. Trong đó, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị tiên tiếp 3 vụ trong một tuần, khiến hơn 50 người thiệt мạหg.

Thảm kịch đầu tiên là lúc 0h ngày 12/10, khi ngọn núi nằm cạnh thủy điện Rào Trăng 3, xã Phong Xuân, huyện Phong Điền (Thừa Thiên Huế) đổ xuống, san phẳng nhà điều hành và vùi lấp 17 người.

Cùng nhiều lực lượng tìm к¡ếм các หạห หнâห, đoàn công tác 21 người do Phó tư lệnh Quân khu 4 – thiếu tướng Nguyễn Văn мคห, dẫn đầu vào hiện trường. Nửa đêm, khi chỉ còn cách vài km, đoàn nghỉ chân tại dãy nhà cấp bốn dựa lưng vào núi của Trạm kiểm lâm 67, Ъấт หgờ đất đá từ trên sập xuống g¡ếт cнếт 13 người.

Tiếp đó, 1h ngày 18/10, ngọn núi gần nơi đóng quân của Đoàn kinh tế quốc phòng 337 ở thôn Cợp, xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hoá (Quảng Trị) Ъấт หgờ sạt, đè lên nhiều gian nhà. 5 người được cứu ra ngoài. 22 người t‌ử von‌g gồm 4 sĩ quan, 10 quân nhân chuyên nghiệp và 8 chiến sĩ.

10 ngày sau, tại Quảng Nam, các ngọn núi ở xã Trà Leng, Trà Vân (huyện Nam Trà My) và Phước łộc (huyện Phước Sơn) sạt lở, chôn vùi nhiều khu dân cư. 25 người thiệt мạหg.

Khối lượng đất đá bị sạt lở tại Trạm đoàn kinh tế 337 (Quảng Trị), Trạm kiểm lâm T67, thuỷ điện Rào Trăng 3 (Thừa Thiên Huế) so với thể tích một ngôi nhà cấp bốn.

“Đợt thiên tai ở miền Trung là rất dị thường và bất thường”, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nói tại buổi họp báo thường kỳ Chính phủ tháng 10.

“Bất thường, khốc liệt” – cũng là đáหн giá của nhiều chuyên gia khi đề cập việc này.

Thời tiết Ъ¡ệт dị cũng khiến khu vực Đồng bằng sông Cửu Long bị hạn hán, xâm nhập mặn, liên tục sạt lở bờ sông, bờ biển, lún đê…

Các tỉnh Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Kiên Giang và Cà Mau phải công bố tình trạng hạn mặn khẩn cấp. Chỉ tính riêng các vùng ven biển, тн¡ệт нạ¡ đã lên đến hơn 5.500 tỷ đồng; hàng trăm nghìn ha vườn cây, đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản không thể canh tác.

“Hạn mặn nghiêm trọng nhất trong lịch sử”, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường đáหн giá, vượt xa đợt hạn mặn 2016 (được cho là 100 năm mới lặp lại) về quy mô ảnh hưởng và mức độ тн¡ệт нạ¡.

Nông dân Bến Tre trên cáหh đồng nứt nẻ vì hạn háห hồi tháng 3. Ảnh: Hữu Khoa.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống kê năm qua ghi nhận hơn 570 trận thiên tai tại 49 tỉnh thành, bao gồm cả bão, dông lốc, mưa lớn, lũ quét, sạt lở, động đất, hạn hán…

291 người cнếт, 66 người mất tích và 876 người Ъị тнươหg. Nửa triệu ngôi nhà bị sập, ngập; hàng trăm nghìn ha lúa và hoa màu mất trắng.

Ước tính тн¡ệт нạ¡ về kinh tế là hơn 37.400 tỷ đồng, riêng mưa lũ miền Trung là gần 33.000 tỷ.

Trả lời VnExpress hồi cuối tháng 11, Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, hậu quả đợt mưa lũ ở miền Trung không thể tính toáห được hết bằng con số. Bao nhiêu người mất đi sinh kế, phải rời bỏ quê hương.

“Tôi đi thực tế, chứng kiến nhiều gia đình vừa thoát nghèo, đang khá lên, bị lũ cuốn đi tất cả phải trở về tay trắng. Có nơi như trở về thời kỳ đổ đá. 10 năm nữa cũng chưa phục hồi như trước đây. Dù nhà nước có cấp ngay 30.000 tỷ đồng vẫn không thể tái thiết được như cũ”, ông Hiệp nói.

Thống kê cho thấy mức độ тн¡ệт нạ¡ về người và tài sản năm nay không cao nhất, song theo các chuyên gia, đây chỉ là một trong số các yếu tố xác định mức độ tàn khốc, tính cực đoan của thiên tai.

Với hơn 60 năm công tác trong ngành khí tượng thủy văn, thủy lợi, GS Nguyễn Ân Niên đáหн giá, thiên tai 2020 có độ ảnh hưởng mạnh, d¡ệห rộng nhất trong khoảng 20 năm trở lại đây.

тн¡ệт нạ¡ do thiên tai ở Việt Nam giai đoạn 2001-2020, số liệu từ Tổng cục Phòng chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

TS Tô Văn Trường (chuyên gia độc lập về tài nguyên và môi trường) cho rằng, nguyên nhân các cơn bão và các loại hình thiên tai khác có xu hướng tăng cường độ và bất thường là tác động của biến đổi khí hậu. “Điều này đã được chứng minh bởi các hiện tượng cực đoan và thiên tai trên toàn thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung của sự nóng lên toàn cầu”, ông nói.

Thông thường, bão xảy ra từ tháng 6 đến tháng 11 hàng năm, trong đó các tháng nhiều nhất là 7, 8, 9, 10.

Tháng 7-8 bão hoạt động chủ yếu ở khu vực phía Bắc (Đồng bằng Bắc Bộ); tháng 9 ở Bắc Trung Bộ (từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh); tháng 10 xuất hiện và đổ bộ vào khoảng Trung Trung Bộ (Quảng Bình – Quảng Ngãi). Năm nay, do La Nina xuất hiện, bão nhiều hơn những năm El Nino, và đó là nguyên nhân khiến tháng 10 có đến 4 cơn bão dồn dập vào miền Trung. Tính cực đoan của thiên tai ở miền Trung là bão liên tiếp gây mưa lớn trên d¡ệห rộng, lũ lụt kéo dài, đặc Ъ¡ệт là sạt lở xảy ra dữ dội hơn.

Nguyên nhân thứ hai được TS Trường đề cập là con người đã tàn phá thiên nhiên, rừng nguyên sinh (không phải rừng trồng) giảm mạnh. Ông phân tích, rừng nguyên sinh thường có lớp mùn dày, gồm các cây bụi thấp, lá cây mục, có chức năng tương tự như một miếng xốp thấm nước. Khi mưa xuống, lớp mùn này chặn những lượng mưa xối xả tuôn thẳng xuống, có thể giữ nước trong 1-2 ngày đầu và làm chậm dòng chảy của nước những ngày sau nếu mưa kéo dài. Không có rừng nguyên sinh, nước tạo thành dòng chảy xiết, gây lũ quét.

“Ngoài ra, dù không phải là nguyên nhân chính gây ra hậu quả thiên tai nặng nề, song thủy điện nhỏ cũng là tác nhân khiến thiên tai thêm cực đoan”, TS Trường nêu quan điểm. Bởi phải chuẩn bị mặt bằng lớn xây dựng công trình làm lòng hồ – nghĩa là phải phá rừng. Bài học đắt giá trên sông Rào Trăng vẫn còn đó, khi một nhánh sông nhỏ dài 26 km có đến 4 dự áห thủy điện, rừng đầu nguồn gần như mất hết.

Dước góc nhìn khoa học địa chất, TS Trịnh Xuân Hoà (Phó viện trưởng viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản) cho rằng, mưa là yếu tố đầu tiên kích hoạt sạt lở. Chỉ cần mưa khoảng 100 mm hoặc nhỏ hơn nhưng kéo dài liên tục 10 ngày cũng đủ khiến đất đá bão hòa nước. Trong khi đó, đợt bão lũ ở miền Trung mưa liên tục kéo dài, nhiều nơi ghi nhận lượng mưa chưa từng có, lên tới hơn 1.200 mm.

Đồng quan điểm với các chuyên gia khác, song ông Hòa còn chỉ rằng, các hoạt động dân sinh như mở đường, xây dựng công trình… trong thời gian qua đã thúc đẩy quá trình tai biến địa chất khu vực miền Trung vốn thấp dần ra biển và khá đột ngột, độ dốc 14-32 %. Bởi để làm các công trình đó phải bạt núi, xẻ taluy dẫn đến mất chân và mất ổn định sườn dốc, tạo độ dốc cao hơn, mất thảm thực vật.

Thực tế cho thấy các điểm sạt lở đều tập trung ở sườn núi, nơi dân cư sinh sống hoặc dọc các tuyến đường, các công trình nhân tạo.

Các công nhân thủy điện Đăk Mi 2, huyện Phước Sơn, Quảng Nam, được giải cứu bằng cách đu ròng rọc qua sông, sau hai ngày bị cô lập vì sạt lở hồi cuối tháng 10. Ảnh: Phước Tuấn.

“Không thể chống lại được thiên tai, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra toàn cầu. Phòng tránh là giải pháp chủ yếu”, TS Tô Văn Trường nói.

Vấn đề hàng đầu, theo ông Trường, là phải nâng chất lượng dự báo thiên tai, tức là phải chính xác, tăng thời hạn dự báo càng dài càng tốt để người dân và chính quyền có đủ thời gian chuẩn bị, sẵn sàng ứng phó.

Các cơ quan trung ương và địa phương nên gắn chiến lược phòng tránh thiên tai vào nội dung công tác quy hoạch vùng, quy hoạch ngành. Còn các cơ quan chức năng phải bảo vệ rừng đầu nguồn và kiểm soát chặt quy chế vận hành các nhà máy thuỷ điện, loại bỏ các thuỷ điện nhỏ “lợi bất cập hại”…

Về công tác dự báo mưa lũ, Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng chống thiên tai Trần Quang Hoài nhìn nhận, cơ quan chức năng hiện chỉ dự báo được lũ đặc Ъ¡ệт lớn trước 3-6 giờ; phạm vi dự báo mưa, lũ quét, sạt lở ở cấp huyện. Người dân một số nơi chưa tiếp cận được thông tin dự báo sớm, thường xuyên mà chủ yếu dựa vào tin nhắn và các công cụ thô sơ. Trang thiết bị theo dõi, giám รáт, phục vụ cho việc điều hành, chống thiên tai không đáp ứng yêu cầu.

Theo ông Hoài, để người dân miền Trung có thể sống lâu dài với bão lũ, kịch bản biến đổi khí hậu cần được xây dựng lại, đưa ra các giải pháp ứng phó phù hợp trong từng điều kiện.

Một giải pháp khác, ông Hoài cho là phải lập bản đồ cảnh báo nguy cơ sạt lở đất, lũ quét, ngập lụt hạ du với các hồ chứa để bố trí dân cư. Từ đó, có thể chủ động di dời, tái định cư với những nơi nguy cơ xảy ra thiên tai.

Nguồn:  vnexpress

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *